Lã Mộng Thường
[Tiểu Sử | Thi Hữu | Nhắn Tin]


.
- Chị đã bao giờ nghĩ đến có những sự việc làm cũng có tội mà không làm cũng có tội chưa? Thực ra, xét theo tâm thức, người càng thấy mình đạo đức, càng không có đạo đức, mà càng tự nhiên, bình thường, thì đó là phong độ do lòng khiêm nhường dẫn dắt vì khiêm nhường là sống thật với chính mình. Người càng ao ước giầu có, cho dù nhiều tiền của đến mấy vẫn là kẻ nghèo hèn so với lòng tham không đáy. Người càng chứng tỏ mình tin lại chẳng có đức tin mà có thể chỉ là sự tưởng tượng hay cố bám víu điều mình nghĩ là đang có để che đậy sự e sợ trống rỗng, nói cho đúng, sự u tối của mình. Bởi vậy, kẻ nào càng cảm thấy hãnh diện về một tổ chức hoặc danh hiệu nào thì chỉ càng cảm thấy mình trống rỗng bấy nhiêu bởi vì cảm thấy không là gì nên phải dùng danh hiệu nào đó cố đắp vá cho có cảm tưởng mình là một thứ gì! Do đó, nếu đóng cửa lại không cho bất cứ một sự sai lầm, thiếu sót nào vào được thì tất nhiên chân lý cũng ở ngoài luôn bởi những người thoát được sự phê bình thì không làm gì cả, không nói gì cả, và không là gì cả. Sự thánh  thiện của lửa là sức nóng, của nước đá là sự lạnh lẽo, của cây hoa là cành bông. Nếu lửa không nóng, nước đá không lạnh, cây hường không sinh hoa thì còn gì để đặt vấn đề. Ngược lại, mình không được sinh ra có đôi cánh để bay thì sự bay không thể nào là sự thánh thiện để mình phải tiến tới. Cho nên dù cố đánh lừa để người ta tưởng mình bay thì muôn đời cánh cũng không mọc ra được.

Chỉ có kẻ trộm mới suy nghĩ giống kẻ trộm, ngược lại, miệng người công chính nói lời khôn ngoan. Đem những thí dụ điển hình đơn sơ ai cũng có thể nhận thấy thường ngày để trình bày sự khôn ngoan ít ai để ý, điều này nói lên tính chất suy tư thâm trầm và một tinh thần đạt quan hiếm người đạt tới. Cũng chẳng nên trách những người thiếu hiểu biết vì họ đã có những nhận định lệch lạc về ngài, Kính tự nhủ. Họ làm sao có thể nhận ra được sự khôn ngoan ẩn tàng nơi một người còn trẻ hơn tuổi con cái họ lại mang vẻ thật tầm thường, không lệ thuộc cung cách đã bao lâu nay quá quen thuộc đến độ bất cứ những gì không giống, không nằm trong khuôn khổ ấy đều bị coi là nghịch thường. Thế nhưng, nào ai đã bao giờ dám thử nghĩ tới điều "làm cũng có tội không làm cũng có tội?" Dưới những con mắt khuôn mẫu thì đúng và sai chứ không thể đàng nào cũng đúng hoặc đàng nào cũng sai. Sống thực với chính mình thì bị mọi người chê bai, giả hình với chính mình trở thành tội phạm với lương tâm, chỉ những con người thức ngộ mới có thể nhận ra điểm này. Đâu ai nghĩ tới thực sự khiêm nhường là sống thật với chính mình đồng thời cố gắng tỏ ra khiêm nhường lại chỉ là giả hình bởi còn ước muốn trở nên Phật thì vẫn chưa là Phật! Chân lý sự vật khi đã thông suốt thì lối nhìn ước định xã hội không còn chỗ đứng. Đâu ai có thể ngờ được sự toàn thiện lại mang đầy thiếu sót theo lối nhìn thế tục; trên đỉnh ngọn núi ngất trời chắc chắn không thể mang tính chất ẩm thấp nghẹt thở nơi đáy vực thẳm thì làm sao những loài giòi bọ đã quen sống ở đáy vực có thể tìm thấy chốn lý tưởng cho chúng cư ngụ? Nêu lên sự thánh thiện của lửa, của nước đá, của cây hoa để chống ngược lại sự giả hình chạy theo khuôn mẫu và hình thức phiếm diện tưởng không giả thuyết hoặc lý luận nào có thể hay hơn. Chỉ mấy lời nói suông cũng đủ chứng tỏ một tâm trí sâu sắc mà cũng tự nhiên, đơn giản... Ngài trở thành cớ cho khối kẻ vấp phạm chẳng lạ gì... Câu Kinh Thánh chợt được nhắc nhở nơi tâm tư Kính, "Họ nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu..." phỏng hợp với dữ kiện này? Kính còn đang nhận định về những lời cha Hoàng nói thì chị Lữ lại nêu ý kiến tiếp theo,

- Con nghĩ cha cũng cần giải thích cho họ hiểu vì khi một người nhận ra điều nên lẽ phải thì họ có thể phần nào tránh khỏi những sai lầm chẳng nên! Con là đàn bà do đó nhiều khi sự nhận định bị giới hạn trong khuôn khổ phái tính tạo nên cá tính chấp nhận trở thành thói quen lắm lúc làm mình bị thua thiệt bởi kẻ khác hiểu lầm. Nếu chỉ nhìn vẻ bên ngoài mà không hiểu biết gì về cha, người ta sẽ có sự so sánh không được đúng đắn, nhất là quí cụ xưa nay đã quen với những lề lối xét đoán phiếm diện. Thực ra, những điều cha giải thích con hiểu không kịp nhưng cũng được phần nào. Tuy nhiên, lòng dạ con người đâu ai hiểu thấu mà những hình thức bề ngoài thường gây ảnh hưởng đến tâm tình người đối diện. Như vậy, có cách nào để hòa hợp... ít nhất tránh cho người vô tình bị cái nhìn sai lệch...

- Chị muốn nói hòa hợp những chuyện gì?

- Khó cho con nói quá! Nó ngược ngược làm sao ấy...

- Có phải chị muốn nói sự đối nghịch giữa tâm tư và thái độ?

- Vâng, sao cha nói có mấy tiếng mà con nghĩ mãi không được. Nếu con nói sai cha cũng bỏ qua, nhưng tướng cha làm sao ấy; cha không có oai của linh mục mà lại có vẻ lè phè, ngang ngang, hèn chi không hợp nhãn quí cụ...

Chị Lữ hôm nay đặt nhiều vấn đề quá mà vấn đề nào cũng thôi thúc phải hành động một việc gì. Thế ra chị ta vẫn không để ý đến điều ngài vừa nói, "có những sự việc làm cũng có tội mà không làm cũng có tội!" Ban chiều mình đã nhắc đến câu của Pascal "Kẻ muốn làm thánh lại biến thành thú" mà chị này vẫn không để ý. Không hiểu ngài sẽ trả lời thế nào... Biện hộ cho chính mình, có lẽ ngài không cần, nhưng để xem! Kính cảm thấy khó có thể đoán được cha Hoàng sẽ trả lời thế nào.

- Chị nói hợp lý và đúng sự thật vì sự thật cũng như chân lý, chúng bao gồm những điều đối nghịch không thể dung hòa nhưng lại gắn bó chẳng thể tách rời. Tỷ dụ, khi mình nhận ra điều gì tốt lành thì đã có sự chẳng lành. Mình còn cố gắng gò bó theo khuôn mẫu được cho là tốt lành nào đó thì mình đã tự hoang đàng... Các anh các chị thử nghĩ coi, nếu không có tội phạm nào ai cần xây nhà tù. Con người không hoang đàng đâu cần khuôn mẫu... mà tất cả những khuôn mẫu đều mang tính chất hình thức bên ngoài hầu mong ngăn cản sự thái quá nội tâm. Thế nên, thái độ bên ngoài thường ngược hẳn với tâm tình của một người. Những người thực sự có quyền lực rất ít khi và có thể không bao giờ sử dụng quyền hành; trái lại, kẻ không có quyền lực mới lạm dụng vị thế hoặc tỏ ra mình thế nọ thế kia cho kẻ khác nể nang. Bởi vậy, thường thì chúng ta chiêm ngưỡng những người sống gương mẫu nên gượng làm mẫu bởi vì còn chiêm ngưỡng thì còn chưa như thế dẫu rằng mỗi người là một mẫu gương. Mình không được sinh ra với đôi cánh mà cố gắng tập bay như chim thì đến muôn đời cũng không thể bay như chim, có chăng chỉ giả đò bay như chim để người khác tưởng mình là chim. Vì thế, nếu mình đã không phải là gì thì đâu cần phải trở thành gì! Mình đâu cần bắt chước bất cứ ai vì mình không phải là họ. Hơn nữa, chính vì những cố gắng vô bổ không đem lại lợi ích nên người ta đã quá coi trọng sự thành công hầu phần nào thỏa mãn khát vọng muốn trở thành một cái gì. Thật ra, tầm thường và lòn cúi thì việc gì cũng thành công, và bởi đó, chính những điệu bộ, những thái độ cố tỏ ra quan trọng thiếu tự nhiên chỉ là chiếc mặt nạ che lấp tự ti mặc cảm, kết quả của những cố gắng chẳng nên để có cảm nghĩ thành công. Tôi dám bảo đảm với quí anh quí chị, đa số con người đều không dám nói thật dẫu biết rằng lối đùa cợt hay nhất trên đời là nói thẳng sự thật. Làm sao mình biết sự thật nơi người khác nên dám nói thẳng sự thật nơi mình là dám sống thật với chính mình, mà sự thật thì lại ngây ngô nên người có bản lãnh rêu rao cái ngớ ngẩn của mình đâu cần đến những hình thức giả tạo che lấp... Như vậy, nếu mình đã không phải loài chim thì cứ thản nhiên đi bộ, chẳng cần tập hay giả hình bay nhảy như chim... và tất nhiên sẽ không có điệu bộ loài chim dẫu mọi người chiêm ngưỡng vẻ cao vời tự tại của giống cầm...

Ít ra phải như thế, Kính thầm nghĩ, cái vẻ bất cần gần như lè phè bên ngoài che dấu sự thức ngộ thâm sâu hèn chi khó được nhận ra. Nguyên nhân nào đã dẫn dắt ngài đạt tới trình độ này... Ngài còn quá trẻ để có thể nói gặp thất bại. Sáu năm trong chức vụ linh mục thì giỏi lắm mới gặp vài ba trường hợp khó xử giới hạn nơi một giáo xứ trong khi nhận thức của ngài lại bay bổng vượt khỏi những ước định xã hội. Đâu dễ chi có được sự thức ngộ "Đã không phải loài chim thì cứ thản nhiên đi bộ" mặc dầu sự việc tầm thường này ai mà không biết nhưng ý thâm sâu lại không dễ chi ghi nhận. Kinh nghiệm phải già dặn thế nào mới hiểu được người dám rêu rao cái ngớ ngẩn, ngây ngô của mình là lối đùa cợt hay nhất? Tự đâu ngài cảm nghiệm được cái giá phải trả của sự ham muốn thành công? Đâu ai có thể ngờ thái độ bên ngoài của một người lại đối nghịch với tâm tư! Điều làm Kính ngạc nhiên nhất là ngài đưa ra những yếu tố đối nghịch không thể dung hòa lại gắn bó nơi cùng một chân lý... Lối giải thích quá ngược ngạo nói lên thực thể sự kiện giúp mở rộng tầm suy xét, chướng tai mà thâm trầm, u mặc, khiến kẻ nào nông nổi chắc phải bực mình... Ngược lại, tất cả lý luận và dẫn chứng quá đơn giản mà ý tứ hiện thực, sống động, ai cũng có thể kiểm chứng ngay tại cuộc sống của mình và biến thành động lực thúc đẩy con người tự đặt vấn đề về chính mình... Phải hỏi cho biết nguyên nhân nào, Kính định bụng...

 

Kỹ sư Long và dược sĩ Hải đã ăn xong nên anh Lữ cùng với họ xuống sòng bài. Cha Hoàng và Kính ra phòng khách dùng trà trong khi chị Lữ lo thu dọn bàn ăn... Nhân cơ hội này, Kính lên tiếng,

- Con có một số thắc mắc nhưng nghĩ đi nghĩ lại chẳng hiểu có nên hỏi không vì con thấy hỏi cũng không cần thiết lắm mà không hỏi thì cứ luôn luôn ôm ấp nghi ngờ. Có điều, con hơi ngạc nhiên nên muốn biết nguyên nhân nào đã giúp cha có được lối nhìn khác hẳn với những quan niệm bình thường...

Mình đã nghi anh này có chiều sâu hiểu biết mà có lẽ đúng. Không hỏi những sự đúng sai, nên hay không nên, mà lại đặt vấn đề căn bản nhận định...

- Anh hỏi như vậy khiến tôi muốn biết anh thích cuốn sách nào nhất trước đã mới có thể trả lời được...

Ngài dọ dẫm gốc gác mình ở đâu để ngăn ngừa sự đối nghịch quan niệm và có thể cũng định xét xem mình thuộc loại người nào... Âu cũng là điều hay nên học...

- Con thích nhất cuốn Kinh Thánh đặc biệt là phần Phúc Âm, nhưng con cảm thấy rất khó hiểu và hình như những gì được viết có vẻ chống ngược lại tất cả những sự hiểu biết về nghi thức hoặc cách thức thực hành tôn giáo...

Mình là linh mục mà anh này lại cho rằng Phúc Âm chống lại những hiểu biết về nghi thức và cách thực hành tôn giáo... Anh ta nói thật lòng hay muốn khởi sự cuộc đấu lý...

- Tôi không muốn tranh biện vì mỗi sự việc, mỗi sự vật có lý riêng của nó; đồng thời tôi cũng không muốn nói đến sự đúng sai, phải trái, vì đúng với tôi chưa chắc đúng với anh và ngược lại, tùy theo quan điểm mỗi người. Tuy nhiên, tôi muốn hiểu rõ hơn về điều anh nói Phúc Âm viết chống ngược những gì và như thế nào về tôn giáo. Anh hiểu tôi muốn nói gì chứ?

Mình đề xướng câu hỏi lại biến thành bị thẩm vấn... Sự rào đón này cũng có lý vì tránh được những điều cải vã chẳng nên...

- Con nói thật tình, nhận thấy sao đặt vấn đề như vậy để tìm hiểu và suy luận. Con cũng không thích đấu lý hoặc tranh biện suông...

- Anh chỉ mới đưa ra hai câu hỏi đã bao quát tất cả những điều khôn ngoan nơi Phúc Âm đồng thời chiếu rọi tới sự thực hành tôn giáo. Hai câu hỏi này tôi chỉ có thể tóm gọn bằng hai câu Phúc Âm, Mác Cô đoạn 1 câu 15 và thư thứ nhất gửi Thessalônikê đoạn 5 câu 21.

- Hai câu đó, một câu nói rằng "Phỏng khi Con Người trở lại có còn thấy được lòng tin trên mặt đất nữa chăng," còn câu kia như thế nào con chưa bao giờ để ý; cha có thể cho con biết được không.

- Câu đó chỉ đơn sơ nói, "Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự." Thực ra câu này được đi kèm với hai câu 19 và 20, "Đừng dập tắt Thần Khí! Đừng khinh thị các ơn tiên tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy! Hãy kị điều dữ, bất cứ dưới hình thức nào!"

Mình đọc mấy thư thấy hình như được viết dưới quan điểm khuyên bảo các tín hữu sống tốt lành hơn, coi Phúc Âm như những bài học luân lý, và sử dụng Tân Ước cũng như Cựu Ước theo nghĩa từ chương được phụ họa bởi luận lý một chiều. Như vậy, chính những thư nơi Tân Ước làm người ta hiểu lầm Phúc Âm, sao có thể có câu nói đối nghịch với sự giảng dạy của giáo quyền Công Giáo như thế này! Phỏng câu này thuộc về thư mục vụ của thánh Phao Lô? Kính nghĩ thế nên dọ dẫm,

- Như vậy, phỏng xưa nay mọi người đã bị cấm đoán một cách chẳng nên...

- Anh muốn nói bị cấm đoán thế nào và về những điều gì?

- Nếu con không lầm thì Kitô hữu không được tùy tiện giải thích Kinh Thánh theo sự hiểu biết cá nhân ngoài đường lối đã được chính thức công nhận của giáo quyền và thường thì lại đặt nặng về vấn đề truyền thống.

Ah! Anh này có trình độ nhận thức khá cao nên đem ngay cái truyền thống gò bó này lên bàn mổ. Thật ra, không cấm đoán thì cũng chẳng mấy ai để ý mà khi đã có người được sinh ra làm những chuyện ngược lại cấm đoán đó thì có cấm cũng chẳng được, cùng lắm là cho rằng người ta không nghĩ giống mình rồi tự cho mình quyền chối bỏ người khác chứ được ơn ích gì đâu! Phỏng nơi giáo quyền có vị nào hơn được Phao Lô mà chính Phao Lô đã đưa ra lời khuyên cảm nghiệm như thế; chuyện phải đến sẽ đến, những cấm đoán này chẳng sớm thì chày cũng bị xóa bỏ giống như vụ án Galiléo mà chớ... Nhưng chẳng nên nói ra làm gì vì lợi đâu không thấy lại mang tiếng không tin vào lời dạy của Giáo Hội...

- Không phải mọi Kitô hữu đâu mà chỉ tín hữu Công Giáo mới bị ngăn cấm như thế!

- Thưa cha tại sao? Phỏng như vậy là ngăn cấm tự do tư tưởng.

- Không phải cấm đoán tự do tư tưởng bởi một người nghĩ bất cứ gì mà không nói ra thì đâu ai biết, và ai có thể ngăn được ý nghĩ của một người. Có chăng chỉ giáo dục, nói cách khác là nhồi sọ cho một số quan niệm tín ngưỡng căn bản theo đường hướng của tổ chức. Có thể vấn đề này chỉ giống như thống nhất hóa quan niệm của các thành viên. Ai quan niệm như những điều Công Giáo quảng bá thì thuộc về tư tưởng Công Giáo, ai nói lên điều gì không giống thì không phải là tư tưởng Công Giáo, chẳng gì hơn, chẳng gì kém.

- Như vậy cha có nghĩ rằng có sự hơn kém nếu so sánh Công Giáo với các tôn giáo khác không?

Anh này muốn đạt tới kết luận nào mà hỏi vòng vo về tôn giáo, cha Hoàng tự hỏi. Nói chuyện về tôn giáo nào ích lợi chi sao lại còn đặt vấn đề so sánh hơn kém. Hay là anh ta nghĩ rằng mình cũng chỉ lo bảo vệ tổ chức thế tục như mọi người...

- Tôn giáo chỉ là một tổ chức nhân sinh mang nhiệm vụ hướng dẫn con người tới ngưỡng cửa tâm linh. Mỗi người có con đường tâm linh riêng không ai giống ai và cũng không ai có thể giúp ai. Vấn đề này cũng giống như ăn uống, chẳng ai có thể ăn dùm người khác. Tuy nhiên, vì không nhận ra vai trò căn bản này của tôn giáo, tham vọng của những thành viên tạo thành tổ chức thế tục của tôn giáo đã vô tình tạo nên sự cạnh tranh mong sao cho tổ chức của mình lớn mạnh. Tôi nghĩ, anh không lạ gì thành quả của quan niệm dân chủ bị hiểu lệch lạc sinh ra sự chấp nhận đa số thắng tiểu số. Tương tự như thế, tôn giáo đông thành viên, nghĩa là có nhiều người theo, thì được những người trong tổ chức tôn giáo ấy cho là đúng, hợp hơn. Ngược lại, với những lối nhìn chật hẹp của những nhóm tôn giáo nhỏ nhoi, con người dễ bị sa lầy vào sự ganh tị hoặc sợ hãi mình đã đang đi sai nên tự tạo cho mình những lý thuyết chỉ trích hoặc kết án người khác hầu che lấp sự sợ hãi hay tự ti mặc cảm của mình. Vấn đề chính yếu của tôn giáo là hướng dẫn con người về tâm linh chứ thực ra tôn giáo không phải là cùng đích giải thoát con người. Nhìn theo khía cạnh ngược lại, tôn giáo là sự thể hiện phần nào mức độ tâm linh của con người chứ không phải con đường tâm linh. Bởi vậy, chẳng có gì đáng nói để so sánh tôn giáo. Nói đến so sánh tôn giáo cũng chỉ như so sánh hai bông hoa cùng loại hay khác loại, mỗi bông có vẻ đẹp riêng không thể so sánh.

Hèn chi ngài cứ bị những đầu óc lệch lạc phê bình. Đối với họ, nếu đem so sánh hai bông hoa nhất định phải có bông này đẹp hơn bông kia, đàng này, mỗi bông có vẻ đẹp riêng, và như thế, mỗi người có giá trị riêng không được đặt thành vấn đề hơn kém. Người ta nói ngài không có oai của linh mục không sai, vì khi đã nhận ra giá trị nơi mỗi người bình đẳng thì tỏ ra hơn kém trở thành trọng tội đối với lương tâm. Đức Giêsu ngày xưa cũng bị phê bình ăn nhậu với những kẻ tội lỗi... Con người của ngài quả là cả một kho tàng bí mật.

- Thưa cha, thế sao con nghe nói trước đây cỡ mấy chục năm, mọi người vẫn tin rằng ngoài Giáo Hội Công Giáo không có ơn cứu độ?

- Có lẽ bởi thế Công Đồng Vatican II mới phải đặt lại vấn đề dân Chúa và như vậy đâu còn ai được coi ngoài Giáo Hội đâu...

- Thế thì ít nhất là hai phần nhỏ truyền thống đã bị xóa bỏ.

- Anh muốn nói về vụ án Galiléo và quan niệm ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ! Nào có ai xóa đâu mà chỉ bỏ thôi... Thật ra, chúng chỉ là quan niệm hạn hẹp nhất thời của con người.

- Con nghĩ rằng không có quan niệm nào mà không nhất thời và nếu không muốn quan niệm bị nhất thời thì đừng quan niệm nữa bởi còn sử dụng lối nhìn phiếm diện về một thực thể thì vẫn còn thiếu sót...

Ít nhất trong cuộc đời còn có những người nhận ra được điều này, cha Hoàng cảm thấy vui vui. Từ xưa đến nay người ta đã nhân danh những sự được cho là tốt lành làm khốn khổ biết bao người mà nào có ai để ý. Những lý thuyết đao to búa lớn tự trời rơi xuống, sản phẩm của quan niệm có một Thượng Đế ngu ngơ ngự trị nơi xa thẳm được mệnh danh chín tầng trời phải nhờ những nhà chuyên môn diễn giải, cố gò ép con người vào những khuôn khổ vì ý muốn bảo vệ tổ chức thế tục, nô lệ cho những quan niệm như sản phẩm của thị dục tạo nên những lý thuyết hình phạt kinh hãi từ Thiên Chúa được mường tượng theo lối nhìn luân lý tuyệt đối. Thế ra con người khốn khổ vì tổ chức chứ không phải vì ơn cứu độ bởi còn ham muốn được cứu độ tức là vẫn chưa được cứu... Như vậy người ta đâu biết điều duy nhất phải sợ chính là sự sợ hãi.

- Nói chuyện với anh thật ý vị. Thoạt đầu tôi nghĩ anh có ý định tấn công tôi nhưng đến giờ tôi thấy mình đã lầm. Thế nên, yêu cầu anh giải thích lối nhìn phiếm diện anh vừa nhắc tới để mình có thể tự do phát biểu hầu tránh sự e ngại bị phán đoán sai hoặc đúng...

- Con muốn nói tới đứng về phía mình cho là đúng để có cái nhìn thiên lệch về những gì mình cho là không đúng. Thật ra, đúng và sai chỉ là lối nhìn chiều theo thị dục mà còn chiều theo thị dục thì vẫn còn luẩn quẩn, vẫn còn chưa thoát ra được, vẫn chưa hiểu Phúc Âm nói gì. Sự vật nó là thế và nó phải là thế; thay vì tìm cách sử dụng sự vật cho hợp lý hợp tình, người ta đã lạm dụng, và để ngăn ngừa những sự lạm dụng cần phải có những luật lệ như một ước định xã hội và thế rồi con người bị chết chìm với những lẽ đúng sai thường tình. Chính vì vậy con thấy Phúc Âm viết một đàng, những tôn giáo lấy Phúc Âm làm chuẩn rao giảng một nẻo không cần biết Phúc Âm nói gì mà ngược lại cứ coi như là những bài học luân lý do đó đặt nặng vấn đề thưởng phạt.

- Anh có thể chứng minh được không?

- Con chỉ nêu lên mấy điểm chính yếu khác biệt giữa tôn giáo và Phúc Âm thử xem cha nghĩ thế nào. Theo Mác Cô (1:15), "Thời buổi đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần bên! Hãy hối cải và tin vào Tin Mừng," vậy Tin Mừng Đức Giêsu rao giảng là gì? Nước Thiên Chúa hay Nước Trời là gì mà tại sao con chỉ thấy nói về một thiên đàng theo óc tưởng tượng khác hẳn với những dụ ngôn Nước Trời? Thêm nữa, đức tin hay lòng tin là gì và tại sao những lời tuyên xưng của các giáo phái khác hẳn những gì Phúc Âm nói về lòng tin? Nếu con không lầm, lòng tin Phúc Âm rao giảng chỉ có một mà những giáo phái Kitô Giáo lại có những bản tuyên xưng đức tin khác nhau; phỏng sự phân rẽ thành nhiều giáo phái chỉ là kết quả của kiến thức về lòng tin hoặc kiến thức thần học hay không? Điểm khiến con ngạc nhiên nhất là những giáo phái Kitô Giáo chỉ rao giảng kiến thức suy luận về Phúc Âm theo kiến thức thần học và lẽ đúng sai luân lý chứ không phải rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu đem đến... Nói đúng hơn, rao giảng tôn giáo dựa trên căn bản e sợ sự luận phạt của con người... rồi đem một thiên đàng tưởng tượng làm mồi nhử; kẻ rao giảng giống như người ngồi trên lưng con lừa cầm đoạn cây treo nải chuối đưa về phía trước... kèm thêm bó đuốc đang cháy đeo lủng lẳng phía sau...

Cha Hoàng phá lên cười vì hình ảnh ví von mà Kính tạo nên để diễn giải khuôn khổ giảng đạo... Đã đến thời điểm Thánh Thần làm việc qua những nhận định của con người. Kinh Thánh đâu viết riêng cho một giới nào và lời Phúc Âm phải được ứng nghiệm. "Hết thảy chúng sẽ là môn sinh của Thiên Chúa. Phàm ai nghe và học nơi Cha thì sẽ đến với Ta" (Gioan 6:45). Một giáo dân mà có được nhận định như vậy phỏng giới rao giảng sẽ phải đặt vấn đề như thế nào... Rồi sẽ đến thời điểm những con đê phân rẽ, đóng khung, trói buộc, và đàn áp lòng khao khát tâm linh phải bị phá vỡ để cho những môn sinh của Thiên Chúa tuyên dương Tin Mừng. Những dòng nước Thần Khí đang từ muôn phương, nơi mọi ngong ngách đổ về được hướng dẫn bằng quyền lực lòng tin sẽ tạo nên sức mạnh san bằng tất cả chướng ngại vật ngăn cản lòng khát khao Thần Khí... Niềm phấn khởi nào đó chợt bùng lên nơi tâm hồn người linh mục trẻ. Phải vậy mới được, ngài thầm nghĩ; Thánh Thần càng kiên nhẫn chỉ càng khốn khổ cho con cái loài người...

- Tôi cảm thấy hơi lạ vì anh thực hiện câu nói nơi thư gửi giáo đoàn Thessalônikê mà lại không biết câu này... Thế mới có thể nói Thần Khí của Đức Kitô làm việc bằng nhiều cách khác nhau...

- Con đọc Kinh Thánh nhưng nhận ra Phúc Âm viết khác hẳn Cựu Ước và các thư. Theo nhận xét của con, Phúc Âm trình bày một Thiên Chúa đối nghịch với quan niệm thông thường của mọi người nhất là quan niệm Do Thái nơi Cựu Ước. Các thư đa số dùng Phúc Âm như những bài học luân lý theo quan niệm thế tục một chiều, đã không làm sáng tỏ mà có thể còn dẫn giải sai lạc Phúc Âm; do đó con không để ý đến câu "Hãy nghiệm xét mọi sự" mà chỉ tự đặt vấn đề rồi góp nhặt những câu nói trong Phúc Âm để so sánh.

- Anh không sợ bị rối đạo sao?

- Con nghĩ, Phúc Âm đâu phải viết riêng cho một giới đặc sủng nào mà cho mọi người. Tôn giáo không phải là cùng đích đời người cũng không phải là đường hướng tâm linh. Đức Giêsu nói "Ta là đường, là sự thật, và là sự sống" chứ không nói đạo này là đường, đạo kia là sự thật, hoặc đạo nào đó là sự sống. Hơn nữa, vì nhận thấy Phúc Âm trình bày khác hẳn nếu không muốn nói là đối nghịch với tất cả những sự thực hành tôn giáo nên ý tưởng rối đạo không có quyền lực trên con. Thực tâm mà nói, con không cho phép bất cứ sự sợ hãi nào ảnh hưởng đến mình do đó chẳng ai có thể hù con được...

- Trên đời này nào ai có thể hù được ai, nhưng sao anh lại nghĩ đến vấn đề này...?

- Theo kinh nghiệm tôn giáo so sánh với Phúc Âm, con nhận thấy Phúc Âm nói về một lòng tin, một Thiên Chúa, một Nước Trời khác biệt với tất cả những gì con được học nơi giáo lý... Thêm vào đó, con có cảm nhận những lời giảng giải của các vị thuyết giáo hình như cứ cố tình loan báo về tội chứ không thấy Tin Mừng đâu cả. Đã gọi là tin mừng sao cứ nói về hình phạt sợ muốn chết... nào lửa sinh lửa diêm, nào người này nhìn thấy đất nứt ra để lộ hỏa ngục, nào Chúa nổi cơn thịnh nộ... Con thử hỏi cha, rao giảng một Thiên Chúa yêu thương vô bến bờ, và nhân từ, hay thương xót mà dám oang oang nói cũng Chúa ấy nổi cơn thịnh nộ thì tự lời rao giảng đã chống đối lẫn nhau. Phúc Âm rao giảng về sự tha thứ lầm lỗi bởi lối nhìn sai lầm thế tục mà đạo nào cũng chỉ rao giảng về tội; thế nên, có phải sự rao giảng trở thành cổ võ điều đối nghịch Phúc Âm hay không? Con không thể tưởng được phương pháp nào tàn tệ hơn cách dạy cho những người tốt lành đi nhà thờ về tội mà lại gọi đó là rao giảng Tin Mừng... Cha thử trả lời con xem, một Thiên Chúa nhân từ vô cùng có thể là một Thiên Chúa công thẳng, chính trực được không? Một Thiên Chúa yêu thương vô bờ bến có can đảm để phạt con người đời đời được không? Thiên Chúa của mấy nhà thuyết giáo kỳ cục vì đó chỉ là Thiên Chúa theo quan điểm thị dục của con người. Đức Giêsu rao giảng một Thiên Chúa "cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người lành, và làm mưa trên người ngay và kẻ ác" (Mt. 5:45) thế mà cứ hô ầm lên Chúa thưởng kẻ lành và phạt kẻ dữ. Có lẽ con rối đạo rồi nên không sợ rối vì Tin Mừng có thể chỉ được viết cho những người không có đạo mà thôi. Con trộm nghĩ, người có đạo không cần đến Tin Mừng vì nếu theo đúng Phúc Âm sẽ bị coi là rối đối với những tôn giáo lấy Phúc Âm làm chuẩn.

- Thế anh không sợ xuống hỏa ngục sao? Cha Hoàng mỉm cười hỏi diễu.

- Khi một người đã ở tận đáy vực thì còn nơi nào cho họ rơi nữa thưa cha. Kính thấy giọng ngài hỏi có vẻ dễ chịu nên ra bộ nghiêm trang nói. Có câu truyện kể rằng anh kia khi ngủ cứ hay trở mình tùm lum và nhiều lần lăn khỏi giường rớt xuống đất khiến anh ta giật mình rất khó chịu. Hỏi một cụ già xem có cách nào chữa trị để khỏi bị té lúc đang ngủ, cụ trả lời, thì đừng ngủ trên giường nữa sao anh có thể rơi xuống đất... Nếu nói theo Kinh Thánh, sau khi ông Adong và bà Evà phạm tội, và vì là tội nguyên tổ lớn lao hơn hết mọi tội nên Thượng Đế tức giận đuổi họ ra khỏi vườn địa đàng. Cả đôi rớt tõm xuống hỏa ngục sinh con đẻ cháu, làm ăn thịnh vượng, sung sướng đến độ vui thú không tha thiết gì đến cảnh buồn tẻ ở vườn địa đàng. Thấy lâu quá không có ai năn nỉ trở lại cảnh điền viên mát mẻ không rượu chè, cờ bạc, trai gái, sống mãi không già ấy, Ngài phải nhập thể làm người thử xem vì lý do gì. Ngài hiện thân thành Đức Giêsu. Đó là nguyên nhân tại sao Đức Giêsu bị quân Giurêu kêu trách đã ăn nhậu với bọn người tội lỗi.

Câu kết luận chẳng ngờ khiến cha Hoàng lại phá lên cười. Anh này đã nhận ra được sự giới hạn của ngôn ngữ diễn tả nơi Kinh Thánh hèn chi có được nhận định trung thực về ảnh hưởng thị dục của tổ chức thế tục nơi các tôn giáo. Đem so sánh sự sung sướng cuộc sống hữu hình với cảnh buồn tẻ theo con mắt thế tục về thiên đàng bao hàm ngụ ý chê bai sự hiểu biết hạn hẹp nhân sinh về con đường tâm linh, nói kiểu này chắc thiên hạ sẽ cho là ngang lắm đây. Thế mà lại còn ra bộ nghiêm trang kể chuyện không muốn rơi khỏi giường thì cứ dưới đất mà nằm... Đúng vậy, người nào đã suy niệm và tìm hiểu nơi Phúc Âm thì chẳng có quyền lực nào đe dọa họ được nữa; Lời Chúa giải thoát con người khỏi những lo âu kết quả của thị dục.

Chị Lữ cũng vừa dọn dẹp xong, nghe thấy cha Hoàng cười, mang bình nước nóng ra phòng khách, trong lúc châm thêm nước vào ấm trà, chị hỏi,

- Có chuyện gì mà hôm nay cha vui thế?

- Nếu tôi không lầm thì dân ở đây cho rằng anh Kính nói ngang lắm phải không?

- Anh ấy có biệt hiệu là Ngáng Kinh mà, thưa cha.

- Đem kèn thổi tai trâu không bị nó húc cho còn là may lắm...

- Anh ấy cũng bị vài vố rồi nhưng cũng may vì nếu không đúng cơ... lại ít nói.

- Bị như thế nào, cha Hoàng hỏi.

- Hôm ấy cũng nhậu ở nhà con, nhân đọc kinh giỗ ông nội anh Lữ nên có mời thêm mấy cụ chòm xóm... Chẳng biết đầu đuôi phát sinh từ đâu mà người bàn vô, kẻ tán ra về lợi ích của việc đọc kinh cầu nguyện cho người chết. Lúc mọi người đã ngà ngà, anh Thanh nói, lên thì lên rồi, xuống cũng xuống rồi, con cháu chỉ mượn cớ đọc kinh cầu nguyện cho ông bà để ăn nhậu. Hoa nến thì ít mà tiền bia tiền rượu thì nhiều; do đó, muốn tụ họp nhau ăn uống thì cứ nói thực chứ đừng mượn cớ, bởi đọc kinh, cầu nguyện thì ai đọc nhà nấy đâu tổn ải chi... Nói qua nói lại, cuối cùng anh Kính lên tiếng, "Đọc kinh thì cứ đọc và nhậu thì cứ nhậu, đàng nào cũng có lợi đâu hại chi mà phải bàn tán." Mấy người bạn hùa nhau bắt chứng minh lợi như thế nào bởi vì xưa nay anh Kính nổi tiếng nói ngang mà hợp lý... Thế rồi anh ấy mới lên giọng khiến mọi người tưởng là chuyện quan trọng lắm lo lắng tai nghe. "Thì đọc kinh, cầu xin từ miệng mình nên Chúa nghe mình mà ban cho mình chứ chẳng lẽ mình xin Chúa ban cho kẻ khác. Việc này cũng giống như sự đổi chác có lời, bỏ ra ít phút đổi lấy ơn huệ nọ, ơn huệ kia theo ý thích thì tất nhiên phải có lợi. Đàng khác, ăn nhậu mà không có lợi cho mình thì ai ăn làm chi, âu là nhất cử lưỡng tiện, vừa được đàng nọ lại được cả đàng kia. Có điều, Phúc Âm chỉ nhắc đến nào vua Đa-vít, vua Salômôn, Abraham, Lazarô, thánh Giuse, người trộm lành, ông nọ, bà kia, tất cả chẳng ai được rửa tội mà cũng không ai là Công Giáo..." Lạy Chúa tôi, mấy cái mỏ ngà ngà rượu đổ xô vào biện minh cho công lao giữ đạo của họ. Có cụ nói, "Anh nói gì giống quân chống đạo vậy? Đi nhà thờ nhà thánh không chịu nghe giảng giải lại nói thiên đàng không có người Công Giáo..."

Cha Hoàng lại cười... Thế mới biết, không dám suy nghĩ hoặc đặt vấn đề đối nghịch chỉ là sự lạm dụng những câu nói đã có sẵn một cách từ chương. Điều này chứng tỏ một nội tâm mù đặc hoặc ỷ lại... Như vậy mới giải thích được câu: "Không phải mọi kẻ nói với Ta lạy Chúa, lạy Chúa là sẽ vào được Nước Trời."

- Có lần khác, bố anh Thanh hí hửng vì đỡ đầu cho gia đình ông bà Tuyến mới sang trở lại đạo. Hôm rửa tội làm tiệc mừng linh đình. Anh Kính cũng ở đó vì anh Thanh cố kéo tới cho có bạn nhậu. Nơi bữa tiệc, thôi thì cụ này tuyên dương công trạng, cụ kia tỏ lời khôn ngoan khói lên... Tại nhóm xồn xồn, bia bung thi đua bật cứ như pháo rang. Anh Thanh được bữa làm chủ xị nên ngà ngà sớm bèn lên giọng: "Thiên đàng chỉ là hồ tắm bằng bia, không cần uống cũng hạnh phúc tràn đầy." Lời qua tiếng lại chẳng hiểu chuyện đi về đâu đến lúc anh Kính nói, "Thế là từ nay thêm một mớ bước vào con đường hẹp. Đường thênh thang không muốn, đường khốn khổ đầy hy sinh, chịu đựng lại cứ thích tỏ ra vinh quang tiến vào." Chẳng ai hiểu anh Kính nói gì, đến lúc gặn mãi, anh ấy mới giải thích, "Ở ngoài thì đâu có hỏa ngục mà xuống! Tại sao gọi là trở lại vì nào có ai vừa sinh ra đã là Công Giáo rồi bỏ trốn mà dùng tiếng trở lại. Nếu trở lại phải nói là trở lại với những gì mình đã được sinh ra với nó, tức là bỏ tất cả mọi sự hiểu biết đã được dạy dỗ để trở về với chính mình." Và thế là sau này có tin đồn cho rằng anh Kính chống đạo.

Con chim có thể bay vì đã được sinh ra với khả năng và đôi cánh để bay; con người có thể suy tư nên được sinh ra với khả năng và khối óc để tư tưởng... Anh này bị vạ vì không chiều theo nhận định được đa số chấp nhận mà dám dùng khả năng suy tư nghiệm xét... cha Hoàng nghĩ.

- Lần khác lại cũng trong bữa nhậu, số là anh Chỉnh có đứa em họ yêu thương một người ở Texas lỡ có bầu hai tháng... Đến khi biết chuyện, bố mẹ, ông bà họ hàng lo xốn vó lên bởi trái bom cứ từ từ tới thời điểm mà đàng trai, đàng gái dắt díu nhau đến gặp cha, không hiểu còn đang bận bịu chuyện gì và vì chẳng biết cái vụ bom nổ chậm, ngài cứ nói thong thả đã. Luật hôn nhân đòi phải gặp linh mục sáu tháng trước mà đã ba tuần, ba lần đi gặp cha, hãy còn bị trả lời thong thả nên gia đình đàng gái bắt đầu có điều o­ng tiếng ve... bởi e rằng đến ngày cưới cô dâu vác cái bụng chình ình ai coi cho được. Không hiểu người nào ngứa miệng đưa vấn đề này ra giữa lúc nhậu khi các tướng đã ngà ngà, và thế là kẻ đặt vấn đề phải kiếm cha khác, người nói nên đi gặp cha xứ Mỹ, lại có người dám cả gan đề nghị để con nhỏ sanh xong rồi ít tháng sau hãy cưới. Người bàn vô, kẻ tán ra thật gay cấn nhưng không ai nêu lên nổi ý kiến gì thiết thực có thể giải quyết vấn đề cho êm đẹp vì được đàng nọ lại mất đàng kia... Cuối cùng, không hiểu sao anh Kính đế vô. Cha biết không, từ đầu đến cuối, anh ấy chẳng nói chẳng rằng thế mà lúc chót lại quay ra phá ngang, "Tôi tưởng rằng không có bầu được mới sợ chứ đã có bầu rồi thì chẳng có phép cưới con bé vẫn đẻ." Ai cũng nghĩ anh ấy có ý kiến gì hay về cưới hỏi nên im lặng chăm chú nghe, nào ngờ chỉ bầu với đẻ khiến mọi người chưng hửng. Anh Chỉnh bô bô nói, "Mày nói như cái đếch, không có bầu chỉ có đái chứ sao có thể đẻ mà cũng nói." Con xin lỗi cha; thế rồi anh Kính bồi thêm một câu càng khiến mọi người xôn xao, "Bộ tao nói sai sao? Có bầu và cưới chuyện nào quan trọng hơn..." Đơn giản chỉ có thế mà có người sau này cho rằng anh Kính coi thường phép đạo.

Cha Hoàng ôm bụng cười... Chị này hôm nay kể chuyện thật sống động mà sao gặp mấy lần trước chị ta có vẻ im lìm như không để ý bất cứ ai nói gì, có được hỏi chỉ trả lời cho qua... Ngài thấy hơi lạ nhưng ngại hỏi vì e chị Lữ cụt hứng nên nói,

- Theo chị, lý do gì anh Kính bị họ nói như thế?

- Từ lâu con chỉ để ý nghe nhiều nhưng thấy mình không hợp với những chuyện vẫn thường được mọi người đề cập đến do đó chỉ ậm ừ cho qua. Con thấy anh Kính nói cũng hơi có lý nhưng không đặt vấn đề nhiều, chỉ nghe sao biết vậy bởi không có người nói chuyện hợp với mình nên ý nghĩ đến rồi đi. Sở dĩ từ nãy đến giờ con nói nhiều vì con mời anh Kính tới dùng cơm trưa rồi nói chuyện cả chiều nay nên quen miệng đó thôi... Con nghĩ để anh Kính giải thích vì chỉ anh ấy mới có thể nói đúng điều anh ấy ám chỉ...

- Sao anh Kính, lý do gì anh có thể đặt vấn đề về những chuyện như thế một cách vừa bình thường vừa khác thường như vậy.

- Thật sự, đó là những bài học trả giá về cái rởm của con thôi. Con đã biết rõ từ lâu có nói ra cũng vô ích và còn bị những người chung quanh lên án thế này thế kia, nhưng âu cũng là cái nghiệp con phải trải qua... mình trả cái nghiệp nhưng tội cho những người vô tình vấp phạm. Ở đây, nói với cha và chị Lữ con không có ý nghĩ gì hết vì thấy chẳng có gì đáng nói mà vì cha hỏi nên con tóm tắt đại khái... Đọc kinh là một điều tốt nhưng chủ đích đọc kinh trật bởi không đọc thì e người khác nói mình bất hiếu nọ kia và những thứ phụ tùng lỉnh kỉnh đã khiến việc đọc kinh trở thành một loại thời trang a dua, thiếu hiểu biết do đó con cố nhịn, nhưng phần nào thấy cần thức tỉnh họ đôi chút nên ngứa miệng. Cha coi, những người được tôn trọng trong Phúc Âm có ai là Công Giáo đâu mà tại sao đã bao nhiêu năm câu nói "Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ" đã thống trị dân Chúa để rồi sinh ra không biết bao lòng khinh khi người khác là quân vô đạo, là quân ngoại... Cho đến bây giờ có lẽ vẫn còn những cụ già tin tưởng rằng ai không được rửa tội sẽ mất linh hồn. Khổ thật, chính mình cũng chẳng biết linh hồn của mình là thứ gì, to bé thế nào, hình dáng, màu mè ra sao mà cứ dựa vào danh hiệu tôn giáo một cách mù mờ tưởng rằng như thế là đủ, như thế là đáng được cứu. Theo con, chưa chắc họ đã hiểu họ mong được cứu thoát khỏi điều gì!

- Thì khỏi bị phạt, khỏi bị sa hỏa ngục chứ còn điều gì nữa!

- Ối giời ơi! Chị còn đủ can đảm để nói được câu này à?

- Em nói họ muốn được cứu thoát khỏi phải sa hỏa ngục.

- Chưa sa sao đã phải cứu?

- Thì sợ phải sa!

- Như vậy thì việc cứu thoát đầu tiên phải là cứu khỏi cái sợ. Thế nên, quyền lực đang hoành hành nơi họ là sự sợ hãi, không phải hỏa ngục. Chị thấy rõ chưa, Đức Giêsu đem đến Tin Mừng không ai thèm để ý tìm hiểu mà cứ làm tôi mọi cho sự sợ hãi thì có được cứu cũng vẫn còn sợ hãi.

- Anh Kính nói có lý nhưng khó có người dám chấp nhận vì có thể chưa đến lúc con người nhận ra hoặc không muốn được cứu... Cha Hoàng thêm vô.

- Cha nói sao, ai là người không muốn được cứu? Chị Lữ hỏi.

- Những người không dám nghiệm xét mọi sự!

- Cha có thể giải thích lý do nào khiến một người không dám nghiệm xét?

- Câu trả lời đúng nhất là chị tự hỏi. Có thể con người không muốn biết hoặc là không biết bởi không tìm hiểu, có thể sợ vì thấy sự suy nghĩ của mình không giống những điều người khác nói, có thể sợ bị cho là ngang, là rối, có thể cho rằng đã có Chúa cứu và mình chỉ làm theo những gì được bảo làm là được cứu... Thôi quá đủ, bây giờ phải trở lại chuyện của anh Kính để nghe giải thích lý do chống đạo... Cha Hoàng trả lời giọng nhẹ nhàng mang đậm nét tê tái...

- Con đâu bao giờ có ý nghĩ chống đạo nhưng đau lòng thì đúng hơn. Con tôn trọng những người không cùng tôn giáo với con thì sao lại phải chống đối ai! Chỉ có điều cảm thấy khắc khoải vì gần hai ngàn năm, lời Đức Giêsu rao giảng đã bị hiểu lầm và đạo đã trở thành mối đe dọa cho những người tin theo. Con đã nhiều lần tự hỏi, giả sử không có điều luật thứ ba giữ ngày Chủ Nhật thì phỏng có ai tới nhà thờ không? Họ tới nhà thờ vì sợ hay vì lý do gì? Tại sao những đạo khác chẳng hạn như Đạo Phật, Đạo Lão họ không có điều luật giữ ngày Chủ Nhật mà họ có thể xây được những đền đài lớn lao như thế? Nếu nói rằng không ở trong chăn không biết chăn có rận thì lại càng chứng tỏ tôn giáo đã không dẫn con người tới dòng suối tâm linh mà còn ngăn cản. Chính nhận định này giúp con cảm thấy thấm thía sự đau lòng của Đức Giêsu qua câu nói: "Khốn cho các ngươi, Ký lục và Biệt phái giả hình, vì các ngươi khóa Nước Trời chận người ta lại! Các ngươi sẽ chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào..." và nhiều nữa nơi Phúc Âm Máthêu đoạn 23 từ câu 13 tới câu 39. Mới đọc thì con tưởng Đức Giêsu lên án họ nhưng sau khi đọc lại nhiều lần con cảm thấy Ngài đang hét lên cho vơi bớt nỗi thương tâm... Giọng Kính trở nên trầm buồn... Đức Giêsu đến rao giảng Tin Mừng mà hỏi Tin Mừng là gì nào ai biết! Nếu đã không biết Tin Mừng thì lại càng không hiểu gì về Nước Trời và lòng tin mà chỉ luật này luật kia, phải thế này, phải thế nọ, những cái phải không phải là mình mà thôi! Đâu phải phi lý mà Phúc Âm đặt vào miệng Đức Giêsu câu nói, "Hỡi con gái Yêrusalem đừng khóc thương Ta, song hãy khóc thương lấy mình và con cái các bà." Tại sao những người theo các tôn giáo khác họ vui tươi, phấn khởi khi nghe giảng thuyết về giải thoát, về thức ngộ; ngược lại, con dân Chúa càng nghe nói về Tin Mừng càng lo sợ xuống hỏa ngục? Phỏng như vậy được gọi là tin mừng hay tin buồn? Con nghĩ, cha là linh mục cha thấm thía nỗi cô độc của Đức Giêsu khi nhìn thấy dân Chúa đã bao nhiêu ngày giờ trải qua vẫn còn trầm luân trong vòng luẩn quẩn thị dục...

- Anh có hiểu tại sao không?

Kính trầm ngâm một chút bỗng lên tiếng với câu nói buông xuôi,

- Chuyện phải xảy ra vậy thôi cha ạ!

- Thế sao anh còn đặt vấn đề cảm thông?

- Đúng rồi, Kính như người vừa chợt tỉnh khỏi cơn mê, vẫn còn lệ thuộc...

Chị Lữ nghe cha Hoàng và Kính đối đáp có vẻ ngơ ngác bởi không hiểu họ nói gì... Thấy thế cha Hoàng nói,

- Tôi hỏi có vẻ kỳ, nhưng chị biết anh Kính nói gì chứ?

- Con hiểu nhưng vì đâu cha lại nói sao anh Kính còn đặt vấn đề cảm thông với Đức Giêsu?

Quay qua Kính, ngài đề nghị,

- Anh giải thích được không?

- Còn đứng về phe nên, cảm thương cho phe không nên thì vẫn còn lệ thuộc...

- Đó là lẽ đương nhiên nhưng cảm thông với Đức Giêsu lại là chuyện khác...

- Dẫu cho mình muốn cảm thông với Đức Giêsu cũng không được vì mình không phải là Ngài nên không thể nào cảm nghiệm được nỗi đau lòng của Ngài. Cha Hoàng thấy chị Lữ chưa thể chấp nhận thì dẫu có giải thích mấy cũng vô ích nên nói trớ về tính chất cảm nghiệm. Thế còn vấn đề không cưới mà có bầu anh giải thích thế nào? Cha Hoàng quay qua Kính hỏi.

Kính hiểu ý ngài; anh thầm nghĩ, từ nay mình không hy vọng hiểu được ngài thế nào nữa. Ngài đã vượt sang thế giới quá xa mà càng xa lại càng trở thành cớ vấp phạm cho nhiều người. Có bao giờ ngài đặt vấn đề về điểm này không, anh tự hỏi... và lại chợt nhận ra mình vẫn còn vương vấn với lẽ nên và không nên; anh nói,

- Có gì đâu thưa cha, người ta chỉ biết phải có bí tích hôn phối vì không có thì sẽ có tội, chết sa hỏa ngục bởi được dạy bảo thế và phải như thế để được yên tâm, và nếu là người Công Giáo mà không có phép cưới, họ hàng thôn xóm sẽ chê cười, ra nguýt, vào lườm. Họ sợ bị người khác nói thế nọ thế kia chứ không phải vì phép bí tích. Con thử hỏi, giả sử đôi bạn trẻ nào đó ăn ở với nhau chẳng phép tắc chi mà mãi không có bầu, phỏng đến gặp linh mục để chịu phép cưới thì có bầu được không? Con người được sinh ra với quyền lực hiện hữu tác tạo thì chẳng thèm nhận biết mà cứ lo mất mặt với chê cười; phỏng không có mặt sao mất? Vậy bao nhiêu triệu người không phép cưới từ ngàn xưa đến giờ họ thế nào? Thực ra, theo con nghĩ, phép bí tích là sự tuyên xưng, tuyên dương quyền lực hiện hữu nơi con người, quyền lực của Thiên Chúa đang tràn lan mọi nơi mọi chốn mới đúng. Đàng này, phải có phép cưới vì sợ thế này, sợ thế kia... sao con người khổ thế! Vậy linh mục nào thời đó làm phép cưới cho Đức Mẹ và thánh Giuse? Ai rửa tội cho Abraham, Jacob, Đavít, Salômôn? Miệng thì oang oang theo Đức Giêsu mà lòng đầy những lo sợ trong khi Phúc Âm chẳng chịu tìm hiểu chỉ chờ được cứu. Ối giời! Có muốn được cứu đâu mà chờ! Câu cuối cùng Kính nói theo hơi thở dài!

- Nói như vậy có lẽ anh đã hiểu được câu Phúc Âm nơi Gioan, "Ngài đã có trong thế gian mà thế gian đã nhờ Ngài mà được có mà thế gian đã không biết Ngài" (1:10). Bất cứ nơi đâu người ta cũng có thể lấy được lửa mà đã phải những bao nhiêu thế kỷ con người mới biết lửa là gì... Sự thánh thiện của từng tạo vật vẫn chưa được nhận ra cũng chính bởi không muốn tự tìm hiểu trong khi cứ đinh ninh những sản phẩm suy tư, cặn bã của người khác để lại là khuôn mẫu để rồi cố gò ép mình trở nên những gì không phải là mình và hy vọng thần linh từ nơi xa thẳm nào đó đến phù hộ và cứu thoát do chẳng nhận ra quyền lực ngay nơi mình. Họ biết quá nhiều những điều không cần thiết nên không thể nào hiểu được câu "Hạnh phúc thay những kẻ ngu đần." Tuy nhiên, kinh nghiệm sống chứng minh, dù chỉ lời nói nghi ngờ sự chính đáng của qui ước một tổ chức cũng làm những người trong tổ chức đó phẫn nộ dẫu họ hiểu thế nào. Khi thời điểm chưa tới thì càng quay cuồng chỉ càng trở nên lệ thuộc cho ước muốn tốt lành. Thực ra, chẳng nên làm cho kẻ khác những gì mình muốn vì cái thích của họ khác của mình; đồng thời làm cho họ những gì họ muốn lại có thể là phương pháp giết họ một cách độc hại.

Giọng cha Hoàng trầm trầm, nhẹ nhàng nhưng chẳng khác gì những tiếng trống đập ngay nơi màng tang Kính. Con đường đi tới của mình còn dài, ngược lại còn muốn tới tất nhiên chưa tới, thôi thì đành chấp nhận chờ đến thời điểm cây đơm bông sẽ tự trổ bông, anh thầm nghĩ... Chị Lữ ngồi nghe mà cảm thấy cha Hoàng nói gì đâu lộn xộn. Thế nào là làm cho họ những gì họ muốn lại có thể là phương pháp giết họ một cách độc hại?...

 

Có tiếng vỏ xe cán trên sỏi lạo xạo bên ngoài; mấy phút sau anh Lữ, kỹ sư Long và nha sĩ Hải mở cửa bước vào. Theo câu chuyện kể lại, chẳng thà họ chịu nghe anh Lữ về sớm thì mỗi người được vài trăm... Tuy nhiên, anh Long biện luận, nếu số hên sẽ ôm về một mớ mà đã chẳng hên có cháy túi thì đã biết rõ trước khi xuống sòng bài... Sau ít phút nước non, cha Hoàng theo họ ra về, vẫn những bước đi gọn ghẽ với tướng nét tàng tàng. Kính thầm lặng, mang nặng lòng vương vấn, đếm bước dọc theo con đường nhỏ đây đó những bóng đèn đường chơ vơ tỏa ánh vàng đục như muốn chia nỗi cảm thông... Chị Lữ rửa chén tách, lau khô cất vào tủ mà ý nghĩ mông lung về câu nói nghịch thường từ cửa miệng người linh mục trẻ...

 

 

***

 

 

Dẫu những buổi họp mang nặng tính chất khuôn mẫu, theo sát từng tiết mục đúng chương trình đã được định sẵn kèm theo giới hạn thời gian nhiều khi đến độ buồn tẻ đối với Kính, anh vẫn tự dặn lòng chẳng nên đề nghị thay đổi vì tất cả những sự thay đổi bên ngoài chỉ là kết quả của sự thức ngộ tâm hồn. Muốn thay đổi một hệ thống phải hòa nhập vào nó trước, đó là lý do tại sao anh tham gia ba đoàn thể, ca đoàn, đạo binh, và liên minh thánh tâm. Thành viên của ca đoàn và liên minh thánh tâm thuộc lứa tuổi xồn xồn dễ cho anh hòa nhập, nhưng đạo binh, chẳng dễ gì, hãy để họ ngủ yên chờ cơ hội, anh thường nghĩ. Và cơ hội đã tới! Thế nên khi cụ Chánh tỏ vẻ e ngại về đạo Satan, Kính lên tiếng hòng có cơ hội giải thích...

- Theo tin tức, người đàn bà có cuộc sống cũng không tốt lành gì nếu xét dưới con mắt luân lý... Chị ta có ba đời chồng nhưng bây giờ sống riêng... và người ta cũng tìm thấy nơi nhà chị ta ở một vài dấu tích hút xì ke... Nhìn vào thực trạng, chúng ta nhận thấy con người sống nơi những đất nước giầu có, quá đầy đủ phương tiện vật chất đến độ chán ngấy mà vẫn không được thỏa mãn niềm khát vọng ẩn tàng luôn luôn thôi thúc nên tìm kiếm những gì vượt trỗi hơn. Sự kiếm tìm này đã đẩy khá nhiều người vào những con đường chẳng nên do thiếu ý thức tâm linh, chẳng hạn nghiện ngập, hút xách, chích choác, và xa hơn nữa, những phe nhóm gây cảm giác mạnh. Đạo Satan là một trong những hiện tượng này vì Satan không phải là một thực thể như chúng ta thường nghĩ mà chỉ là ước muốn thế tục quá mạnh ám ảnh khiến con người không thoát ra được. Chúng ta đi nhà thờ có lần nghe Phúc Âm nhắc đến việc Đức Giêsu gọi thánh Phêrô là Satan. Nói ngắn gọn, Satan chính là quyền lực của ý định, ước muốn chẳng nên nơi mỗi người chúng ta. Cũng thế, ma quỉ là những hồn bị ước muốn, ý định thế tục khi còn sống quá mạnh mẽ ám ảnh khiến không thể thoát ra được, do đó dẫu thân xác đã chết nhưng hồn vẫn bị chìm ngập trong tham vọng đó... Bởi vậy, đạo thờ quỉ gồm những người chấp nhận để cho những linh hồn chưa thoát khỏi tham vọng thế tục hoành hành, ảnh hưởng. Điều đặc biệt, theo những người chuyên môn nghiên cứu về đạo thờ quỉ và một số biên bản của cảnh sát tàng trữ, bất cứ ai không chấp nhận cho các hồn này có quyền trên mình, dứt khoát không bao giờ bị họ phiền hà vì hồn kẻ đã chết không được quyền đụng đến chúng ta nếu chúng ta không muốn...

- Anh nói như thế thì Satan không phải là tổng lãnh thiên thần kiêu ngạo nên bị phạt à? Giáo lý dạy rõ ràng mà anh lại nói Satan chỉ là hồn con người...

- Đây là lời giải thích dựa theo nhân viên chuyên môn nghiên cứu đạo Satan mà thôi. Họ không thuộc về Công Giáo nên đâu biết giáo lý là gì. Kính nói trớ bởi biết rằng có giải thích gì chăng nữa thì cũng chỉ khiến cho những đầu óc non nớt thêm bối rối...!

 

Và cuộc họp như thường lệ chiều ngày Chủ Nhật bắt đầu với nghi thức khai mạc...

 

Lã Mộng Thường

 


Địa Chỉ

Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả
   
Website này cần được sang nhượng chủ quyền (xem chi tiết)